Nghị định 151 về Văn phòng Thi hành án dân sự và Thừa hành viên: 16 điểm mới đáng chú ý
16.5.26Ngày 13/5/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 151/2026/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên (“NĐ 151”). Nghị định này ra đời nhằm hướng dẫn Luật Thi hành án dân sự năm 2025, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 và sẽ thay thế hoàn toàn Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại (“NĐ 08”).
Qua nghiên cứu kỹ lưỡng nội dung
của NĐ 151, Thừa phát lại Bến Thành nhận thấy Nghị định này có nhiều
quy định mới, có tác động đáng kể đến hoạt động của các Văn phòng Thi hành án
dân sự và đội ngũ Thừa hành viên trong thời gian sắp tới. Dưới đây là 16 nội
dung tiêu biểu:
1. Đương nhiên miễn nhiệm khi quá 70 tuổi (Khoản 2 Điều 11 NĐ 151)
NĐ 151 đã bổ sung quy định Thừa
hành viên đương nhiên bị miễn nhiệm khi quá 70 tuổi. Điểm mới này đặt ra một
tiêu chuẩn mới về hành nghề, tạo sự đồng bộ với các nghề bổ trợ tư pháp tương đồng
như Công chứng viên. Về mặt tích cực, quy định giúp đảm bảo đội ngũ luôn có đủ
nền tảng sức khỏe và sự minh mẫn để đáp ứng yêu cầu công việc tại thực địa đồng
thời thúc đẩy quá trình trẻ hóa nhân sự trong nghề.
Tuy nhiên, việc ấn định giới hạn
độ tuổi sinh học dẫn đến hệ quả: một mặt, làm chấm dứt quá trình hành nghề của
những nhân sự đương nhiệm dù vẫn đảm bảo điều kiện sức khỏe; mặt khác, triệt
tiêu cơ hội thu hút lực lượng chuyên gia pháp lý kỳ cựu (như cựu Thẩm phán, Kiểm
sát viên, Chấp hành viên đã nghỉ hưu) chuyển đổi nghề nghiệp. Sự thiếu hụt nhóm
nhân sự đang ở độ chín về uy tín và chuyên môn này không chỉ tạo ra khoảng trống
kinh nghiệm trong ngắn hạn, mà còn đặt một số tổ chức hành nghề trước áp lực phải
nhanh chóng tìm kiếm nhân sự thay thế nhằm duy trì hoạt động.
2. Thu hút cựu Chấp hành viên (Khoản 2 Điều 4 và Khoản 5 Điều 9 NĐ 151)
NĐ 151 bổ sung quy định miễn kiểm
tra kết quả tập sự hành nghề đối với cá nhân từng đảm nhiệm chức danh Chấp hành
viên. Đáng chú ý, đối với trường hợp cựu Chấp hành viên bị xử lý kỷ luật bằng
hình thức buộc thôi việc, quy định mới cho phép họ được xem xét bổ nhiệm Thừa
hành viên sau thời hạn 03 năm kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực pháp luật.
Về mặt tích cực, chính sách này bảo
đảm sự bình đẳng với các chức danh bổ trợ tư pháp khác như luật sư, công chứng
viên (khi bị xử lý hành chính mà muốn chuyển sang Thừa hành viên) … Đồng thời,
quy định tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức hành nghề thu hút nguồn nhân lực
có chuyên môn sâu và kinh nghiệm thực tiễn về thi hành án. Tuy nhiên, xét về mặt
hạn chế, việc tiếp nhận những cá nhân từng bị kỷ luật buộc thôi việc đặt ra
thách thức về quản lý rủi ro đạo đức nghề nghiệp, đòi hỏi các Văn phòng phải
thiết lập tiêu chuẩn đánh giá và cơ chế giám sát nhân sự nội bộ chặt chẽ.
3. Rút ngắn đáng kể thời gian giải quyết các thủ tục hành chính
Mặc dù Nghị định số 18/2026/NĐ-CP
(“NĐ 18”) và Nghị định số 121/2025/NĐ-CP (“NĐ 121”) (là 2 Nghị định sửa đổi, bổ
sung NĐ 08) đã rút ngắn đáng kể thời gian giải quyết thủ tục về Thừa phát lại
nhưng NĐ 151 còn rút ngắn hơn rất nhiều về thời gian giải quyết các thủ tục này.
Cụ thể các ví dụ sau đây:
(1) Đăng ký tập sự hành nghề:
Theo quy định cũ (NĐ 08), Sở Tư pháp có thời hạn lên tới 07 ngày làm việc để
thông báo bằng văn bản về việc đăng ký tập sự. Nay, với NĐ 151, thủ tục này được
số hóa bằng cách cập nhật trực tiếp trên cơ sở dữ liệu và thời hạn được cắt giảm
hơn một nửa, chỉ còn 03 ngày làm việc.
(2) Bổ nhiệm Thừa hành viên: Theo
NĐ 18, sau khi Sở Tư pháp nộp hồ sơ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thời hạn lên tới
20 ngày làm việc để xem xét, quyết định bổ nhiệm. Tại NĐ 151, thời gian để Chủ
tịch UBND cấp tỉnh ra quyết định bổ nhiệm được rút ngắn chỉ còn 05 ngày làm việc.
(3) Cấp mới Thẻ Thừa hành viên: NĐ
151 ấn định thời gian giải quyết thủ tục đăng ký hành nghề và cấp Thẻ Thừa hành
viên mới. Theo đó, Sở Tư pháp sẽ cấp Thẻ và cập nhật lên cơ sở dữ liệu trong thời
gian 05 ngày làm việc.
4. Bỏ trần khống chế số lượng Văn phòng trên một địa bàn hành chính
Nếu như Nghị định 08 từng khống
chế trần “không quá 02 Văn phòng Thừa phát lại tại 01 đơn vị hành chính cấp huyện
là quận, thành phố thuộc tỉnh, thị xã; không quá 01 Văn phòng Thừa phát lại tại
01 đơn vị hành chính huyện” và trong quá trình dự thảo có ý kiến muốn khống chế
theo địa bàn Tòa án, Viện kiểm sát khu vực, thì NĐ 151 đã không còn quy định khống
chế số lượng Văn phòng trên từng địa bàn hành chính đồng thời lần đầu tiên cho
phép các tổ chức hành nghề được mở chi nhánh (xem Mục 6
dưới đây). Quy định này phản ánh quan điểm quản lý theo quy luật cung -
cầu, thúc đẩy các Văn phòng phải tự hoàn thiện bằng uy tín và chất lượng dịch vụ
chuyên nghiệp.
Về mặt hạn chế, sự kết hợp giữa
cơ chế “mở” và sự bổ sung 356 nhân sự vừa đạt kết quả kiểm tra tập sự đầu năm
2026 dự báo sẽ tạo ra làn sóng thành lập mới và mở rộng các văn phòng thi hành
án dân sự nhanh chóng. Trong bối cảnh dư địa việc làm của nghề vốn chưa thực sự
dồi dào, tình trạng gia tăng về số lượng điểm hành nghề trong thời gian ngắn (nếu
có diễn ra) có thể dẫn đến sự bão hòa thị trường và tạo nên sự cạnh tranh lớn.
Điều này đặt ra thách thức lớn về
tính bền vững cho các văn phòng, đặc biệt là trong việc đảm bảo nguồn việc ổn định
để duy trì hoạt động. Các Văn phòng phải cạnh tranh lành mạnh bằng chất lượng dịch
vụ, uy tín và sự chuyên nghiệp để phát triển.
5. Thủ tục cấp phép, hoạt động chuyển sang thực hiện tại cơ quan đăng ký kinh doanh
Một sự thay đổi trong công tác quản
lý nhà nước đã diễn ra khi NĐ 151 không còn quy định Sở Tư pháp làm đầu mối duyệt
cấp các thủ tục hành chính trước đây. Theo Nghị định mới, các thủ tục từ thành
lập, đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung đăng ký, tổ chức lại, cho đến tạm ngừng,
giải thể, phá sản và chấm dứt hoạt động đều được chuyển sang thực hiện theo quy
định của pháp luật về doanh nghiệp. Đáng chú ý, Nghị định mới không còn quy định
về vai trò của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc cho phép thành lập Văn phòng
thi hành án dân sự.
Giờ đây, các Văn phòng thi hành
án dân sự hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do Cơ quan đăng
ký kinh doanh cấp, thay thế Giấy đăng ký hoạt động cũ. Quy định chuyển tiếp (Điều
58) cũng yêu cầu việc đổi tên Văn phòng Thừa phát lại hay xử lý các hồ sơ thành
lập, tổ chức lại đang giải quyết dở dang phải được chuyển luồng, thực hiện theo
cơ chế của pháp luật về doanh nghiệp. Sự thay đổi này khẳng định bản chất doanh
nghiệp của các Văn phòng Thi hành án dân sự và tạo sự đồng bộ thông tin trên Cổng
thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
![]() |
| Hình minh họa 1 Thừa phát lại đang lập vi bằng |
6. Văn phòng Thi hành án dân sự có thể mở chi nhánh (Khoản 1 Điều 22 NĐ 151)
Đây là một điểm mới rất đáng chú
ý và có thể cần hướng dẫn, giải thích thêm vì NĐ 151 chỉ đề cập đến "chi nhánh" trong điều luật về tống đạt văn bản. Nếu Thông tư hướng dẫn chi tiết cho phép mở chi nhánh để thực hiện thêm các chức năng khác thì đây là một bước ngoặt rất lớn. Trước đây, NĐ 08 không cho phép Văn phòng Thừa phát lại mở chi nhánh hay văn
phòng giao dịch. Trên thực tế, do khó khăn về lượng hồ sơ, để tìm kiếm nguồn việc,
một số Thừa phát lại ở các địa phương ít nguồn việc lập vi bằng đã đến các địa
phương nhiều nguồn việc hơn để làm hồ sơ; hoặc các Thừa phát lại ở các Văn
phòng ở khu vực trung tâm thường xuyên đến tại vùng ven, khu dân cư để nhận các
hồ sơ.
Nay, việc NĐ 151 đang có các quy
định theo tinh thần là cho phép lập chi nhánh có thể mang đến các tác động rất
rõ rệt. Đó là, các Thừa phát lại (Thừa hành viên) có thể công khai ngồi thường
xuyên, lập chi nhánh để giải quyết hồ sơ ở bất kỳ đâu trên cả nước. Các văn
phòng, các Thừa hành viên có uy tín, năng lực, mạng lưới kết nối tốt sẽ dễ
dàng, công khai mở rộng quy mô hoạt động để tiếp cận, hỗ trợ khách hàng của
mình. Cơ chế mở này kết hợp với việc xóa bỏ trần khống chế số lượng Văn phòng ở
một khu vực hành chính nhất định sẽ tăng cường độ phủ sóng của dịch vụ Thừa
hành viên, đưa dịch vụ này đến gần hơn với người dân, đồng thời buộc các tổ chức
hành nghề phải không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ để cạnh tranh, tìm kiếm
hồ sơ.
7. Không còn rào cản địa giới hành chính trong hoạt động tống đạt (Khoản 1 Điều 22 NĐ 151)
Từ thực tiễn khó khăn trong việc
tống đạt liên tỉnh. Thừa hành viên được quyền tống đạt
giấy tờ của Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan THADS ở tỉnh, thành phố khác, với điều
kiện “địa chỉ của người được tống đạt phải thuộc địa bàn tỉnh, thành phố nơi
văn phòng thi hành án dân sự đặt trụ sở, mở chi nhánh”. Ví dụ: Văn phòng
Thừa phát lại X có trụ sở ở TP.HCM và 1 chi nhánh ở tỉnh Khánh Hòa thì hoàn
toàn có thể ký hợp đồng đi tống đạt văn bản cho Tòa án TP. Hà Nội, miễn là địa
chỉ của người cần nhận văn bản tống đạt nằm ở TP.HCM hoặc Khánh Hòa.
Điểm mới này có thể giúp giảm thủ
tục ủy thác lãng phí thời gian giữa Tòa án, Cơ quan THA các địa phương với
nhau. Nó giúp tận dụng mạng lưới Văn phòng thi hành án dân sự, chi nhánh để đẩy
nhanh tốc độ giải quyết các vụ án, hồ sơ thi hành án.
8. Nâng khung chi phí tống đạt, giải quyết bài toán bù đắp chi phí (Khoản 2 Điều 53 NĐ 151)
Khắc phục sự lạc hậu của quy định
cũ, NĐ 151 đã nâng khung chi phí tống đạt lên mức tối thiểu là 120.000 đồng và
tối đa là 240.000 đồng/lần tống đạt hợp lệ. Đây là một sự điều chỉnh thiết thực,
tháo gỡ khó khăn tài chính cho các Văn phòng:
Thứ nhất, là để bù đắp trượt giá.
Mức phí cũ (65.000 - 130.000 đồng) đã bị “đóng băng” từ cách đây 6 năm theo NĐ
08 (thậm chí xét rộng ra là không tăng đáng kể so với Thông tư liên tịch
09/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BTC trước đó). Việc nâng khung phí giúp bù đắp
xứng đáng cho chi phí quản lý, xăng xe, và nhân sự thực tế trong bối cảnh tốc độ
trượt giá và lương cơ sở liên tục tăng cao. Từ đó, tạo động lực để Thừa hành
viên duy trì đội ngũ nhân sự tống đạt chuyên nghiệp.
Thứ hai, là để phù hợp với bối cảnh
sáp nhập đơn vị hành chính. Trong giai đoạn tới, việc gộp tỉnh sẽ khiến diện
tích địa giới hành chính của một đơn vị cấp tỉnh lớn hơn. Khoảng cách di chuyển
nội tỉnh sẽ lớn hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh việc tăng mức
tiền, NĐ 151 lại mang đến một thay đổi lớn về đơn vị tính phí cần đặc biệt lưu
ý, đó là việc thay đổi từ tính phí theo “việc” (như quy định cũ tại Điều
62 NĐ 08) sang tính theo “lần tống đạt hợp lệ”. Sự thay đổi chữ nghĩa
này có thể tạo ra nhiều cách hiểu và áp dụng trên thực tế:
Ví dụ, Thừa hành viên nhận đi tống
đạt 10 hồ sơ cho 10 đương sự khác nhau (có thể là các bị đơn, người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan trong cùng một vụ án) nhưng họ cùng cư trú tại 1 địa chỉ
nhà. Nếu hiểu theo cách tính “lần” (tức là 1 lần đến địa chỉ đó), Thừa hành
viên có thể chỉ được tính phí 1 lần, bất chấp việc phải thực hiện các thủ tục tống
đạt, lập biên bản, giải thích cho 10 người khác nhau.
Ngược lại, ví dụ Tòa án giao 2
văn bản cho 1 đương sự. Thay vì mang 2 văn bản đi giao cùng lúc (tính là 1 việc
theo quy định cũ), Thừa hành viên có thể tách ra đi tống đạt làm 2 lần vào 2 thời
điểm khác nhau để được tính phí thành 2 “lần tống đạt hợp lệ”.
Việc chuyển sang tính phí theo “lần”
thay vì theo “việc” chắc chắn sẽ tạo ra nhiều cách hiểu và áp dụng không đồng
nhất, dễ dẫn đến tình trạng các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát bắt bẻ, gây khó
khăn cho Văn phòng thi hành án dân sự trong khâu thanh quyết toán. Do đó, quy định
này tại Nghị định rất cần được hướng dẫn chi tiết tại Thông tư để tránh lúng
túng trong áp dụng.
9. Khẳng định và mở rộng hiệu lực pháp lý của vi bằng (Khoản 1 Điều 27 NĐ 151)
Nghị định mới đã quy định rõ: “Vi
bằng là nguồn chứng cứ để Tòa án nhân dân và các cơ quan có thẩm quyền
xem xét khi giải quyết vụ việc...”. Việc bổ sung cụm từ “các cơ quan có thẩm
quyền” là một điểm sáng vô cùng tích cực. Quy định này đã mở rộng giá trị pháp lý của vi bằng,
xác nhận vi bằng không chỉ là nguồn chứng cứ trước Tòa án mà còn hoàn toàn hợp
lệ, có giá trị xem xét khi đương sự xuất trình trước Trọng tài thương mại
hay các cơ quan có thẩm quyền khác (ví dụ, Ủy ban nhân dân, các Sở ngành…).
Điều này giúp vi bằng phát huy tối đa vai trò vốn có (nguồn chứng cứ).
10. Tăng cường tính độc lập, chủ động của Thừa hành viên thông qua quy định về chữ ký trong vi bằng (Khoản 3 Điều 30 NĐ 151)
Khắc phục rào cản từ quy định cũ,
Khoản 3 Điều 30 NĐ 151 nay chỉ yêu cầu: “Vi bằng phải có chữ ký của Thừa
hành viên, người yêu cầu và có thể có chữ ký của người tham gia khác”.
Trước hết, sự thay đổi này trả lại
đúng bản chất của vi bằng là văn bản do Thừa hành viên lập để ghi nhận khách
quan và tự chịu trách nhiệm, không phải là “biên bản thỏa thuận” phụ thuộc vào
ý muốn của các bên. Thứ hai, việc loại bỏ yêu cầu bắt buộc phải có chữ ký của “người
tham gia”, “người có hành vi bị lập vi bằng” đã ngăn chặn tình trạng bên đối lập
lợi dụng quy định này để gây áp lực, khó khăn, đòi chỉnh sửa nội dung hoặc cố tính
trốn tránh nhằm cản trở phát hành vi bằng. Cuối cùng, quy định mới hoàn toàn
phù hợp với quy trình tác nghiệp, bởi vi bằng thường được hoàn thiện tại Văn
phòng sau 1-3 ngày, việc yêu cầu bên đối lập, người tham gia khác quay lại chỉ
để ký tên là rất không khả thi.
Giờ đây, chỉ cần chữ ký của Thừa
hành viên và khách hàng là vi bằng đã đảm bảo hình thức, giúp củng cố sự chủ động,
độc lập và bảo vệ an toàn cho Thừa hành viên trong quá trình tác nghiệp.
11. Bổ sung nghĩa vụ chụp ảnh khi lập vi bằng (Khoản 4 Điều 30 NĐ 151)
Một bước tiến trong nghiệp vụ lập
vi bằng là việc NĐ 151 yêu cầu: “Vi bằng phải kèm theo hình ảnh của Thừa
hành viên khi chứng kiến sự kiện, hành vi...”. Bản chất của vi bằng là lời
làm chứng độc lập, khách quan về các sự kiện, hành vi mang tính chất “động”
(khác với tính “tĩnh” của hồ sơ công chứng), do đó rất cần hình ảnh, video để
ghi lại khoảnh khắc minh chứng. Trước đây, do thiếu vắng quy định này, Thừa
phát lại thường gặp khó khăn khi giải thích với khách hàng, các bên liên quan về
sự cần thiết của việc chụp hình.
Quy định mới không chỉ cung cấp
cơ sở pháp lý danh chính ngôn thuận cho hoạt động thu thập chứng cứ mà còn bảo
vệ Thừa hành viên trước các tranh chấp phát sinh.
12. Cải cách thủ tục sửa lỗi kỹ thuật vi bằng (Điều 31 NĐ 151)
Nghị định mới đã tháo gỡ một “cơn
đau đầu” trong thực tiễn khi cho phép sửa lỗi kỹ thuật vi bằng thông qua việc lập
“văn bản sửa lỗi kỹ thuật” riêng biệt. Theo quy định trước đây, việc buộc
phải gạch chân, sửa chữa trực tiếp trên bản chính vi bằng là thiếu khả thi. Lý
do là vi bằng sau khi lập đã được đăng ký tại Sở Tư pháp và giao cho khách hàng
lưu giữ, việc thu hồi toàn bộ để sửa trực tiếp là rườm rà và bất tiện. Quy định
ban hành văn bản sửa lỗi kỹ thuật độc lập và thông báo cho các bên liên quan là
rất phù hợp với thực tế khách quan.
13. Bổ sung quyền yêu cầu phong tỏa tài sản khẩn cấp (Khoản 1 Điều 43 NĐ 151)
NĐ 151 đã trao thêm cho Thừa hành
viên một quyền quan trọng: Song song với việc đề nghị cơ quan thi hành án công
ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, thì trong “trường hợp cần
phong tỏa ngay tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ của người phải thi hành án mà
chưa có quyết định phong tỏa thì Thừa hành viên lập biên bản yêu cầu cơ quan, tổ
chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải thi hành án phong
tỏa tài khoản, tài sản đó”.
Đây là một quy định rất mới, cho
phép tạo ra cơ chế chặn tạm thời đối với tài sản của đương sự để ngăn tẩu tán. Tuy
nhiên, quy định này vẫn mang tính chất khá “nửa vời” và “thiếu sót” so với Luật
Thi hành án dân sự năm 2025 ở hai khía cạnh:
Thứ nhất, thu hẹp quyền hạn so với
Luật Thi hành án dân sự 2025: Việc phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ
theo NĐ 151 thực chất chỉ là một phần quyền mà Thừa hành viên được phép làm.
Căn cứ theo điểm đ khoản 2 Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2025, Thừa hành
viên còn có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền “tạm ngừng giao dịch,
tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng
tài sản”. Việc NĐ 151 chưa quy định bao quát các quyền hạn cực kỳ quan trọng
này (đặc biệt là liên quan đến các tài sản phải đăng ký như nhà đất, xe cộ) khiến
Thừa hành viên bị thiếu đi các công cụ pháp lý trọn vẹn để bảo vệ quyền lợi người
được thi hành án như tinh thần mà Luật đã trao
Thứ hai, rào cản về thủ tục buộc
chuyển giao vụ việc: Theo khoản 1 Điều 43 NĐ 151, quyền hạn bảo đảm tài sản này
không được thực hiện triệt để đến cùng: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ
ngày nhận được quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, nếu Thừa hành viên không
thể thi hành án được (do người phải thi hành án không tự nguyện hoặc các bên
không thỏa thuận được), Thừa hành viên lại bắt buộc phải “làm thủ tục chấm dứt
việc thi hành án để chuyển cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục tổ chức thi hành”.
14. Tăng cường sự phối hợp giữa Cơ quan thi hành án công và Văn phòng THADS (Điều 45 NĐ 151)
NĐ 151 đã xây dựng một cơ chế phối
hợp thông tin và luân chuyển dòng tiền nhằm bảo vệ quyền lợi của người được thi
hành án. Cụ thể, nếu cơ quan thi hành án công tổ chức thi hành xong mà vẫn còn
dư tiền của người phải thi hành án, trong khi đương sự này đang phải thi hành một
khoản khác (trong cùng bản án hoặc bản án khác) do Văn phòng THADS đảm nhận, cơ
quan thi hành án công sẽ làm thủ tục chuyển khoản số tiền dư đó cho Văn phòng
THADS để tiếp tục thi hành.
Ngược lại, Thừa hành viên cũng phải
có trách nhiệm thông báo và chuyển tiền cho cơ quan thi hành án công khi có yêu
cầu. Thậm chí, theo tinh thần của Luật Thi hành án dân sự năm 2025 (khoản 3 Điều
74) được dẫn chiếu ngay trong điểm b khoản 2 Điều 45 NĐ 151, Thừa hành viên có
thể phải chuyển ngay số tiền thu được cho cơ quan thi hành án công mà không được
chờ đến khi thi hành xong tiền còn dư. Đây là một điểm rất đáng lưu ý và rất cần
sự hướng dẫn, giải thích từ cơ quan có thẩm quyền hoặc các văn bản hướng dẫn NĐ
151.
15. Phí thi hành án dân sự là tự do thỏa thuận (Điều 54 NĐ 151)
NĐ 151 quy định chi phí tổ chức
thi hành án do người yêu cầu và văn phòng thi hành án dân sự thỏa thuận.
Trước đây, NĐ 08 (Điều 65) đã khống chế chi phí này khi buộc mức phí thi hành
án dân sự phải thực hiện theo pháp luật về phí, lệ phí và chỉ cho phép hai bên
được quyền thỏa thuận ở những vụ việc phức tạp. Việc xóa bỏ trần khống chế này
và cho phép thỏa thuận tự do theo cơ chế thị trường tại Nghị định mới đã giúp
các Văn phòng Thi hành án dân sự có đủ nguồn lực tài chính bù đắp chi phí quản
lý, tạo động lực to lớn để Thừa hành viên tham gia nhiều vào các vụ việc thi
hành án trên thực tế.
16. Chuyển đổi số
Khác với quy trình thủ công trước
đây, NĐ 151 quy định việc chuyển đổi số, áp dụng các thành tựu công nghệ thông
tin trong hoạt động. Một là, cho phép thỏa thuận lập vi bằng bằng thông
điệp dữ liệu và ký hợp đồng thi hành án dưới dạng văn bản điện tử có ký số. Hai
là, cải cách khâu đăng ký; thay vì nộp bản chính giấy lên Sở Tư pháp như
trước đây, Văn phòng nay có thể cập nhật vi bằng lên Cơ sở dữ liệu tập trung
toàn quốc trong 03 ngày làm việc, giúp giảm tải kho lưu trữ vật lý cho Nhà nước,
tiết kiệm chi phí in ấn, đi lại và chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”. Ba
là, bắt buộc số hóa hồ sơ công việc bằng chữ ký số để lưu trữ điện tử lâu
dài. Bốn là, thiết lập cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu của Văn phòng thi
hành án dân sự liên thông với các bộ, ngành và địa phương.
Sự chuyển đổi số mạnh mẽ này giúp
tận dụng mọi nguồn lực xã hội đặc biệt là các thành tự khoa học công nghệ, tiết
kiệm thời gian làm thủ tục hành chính và đưa hoạt động Thừa hành viên tiến tới
một môi trường làm việc chuyên nghiệp, minh bạch, “không giấy tờ”.
TPL Đức Hoài


